Hiển thị các bài đăng có nhãn chinh_luan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chinh_luan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2010

THÀNH-TÍN-TRÍ-DŨNG


Chữ "Thành" là gì?

Trong Kinh văn có nói: "Sở vi thành kỳ ý giả, vô tự khi giả" (thành kỳ ý nghĩa là mình chẳng dối mình). Như vậy ta nhận thấy ý nghĩa đầu tiên của chữ Thành là hiểu mình, không tự dối mình. 
Vậy không tự dối mình là thế nào? – Là làm theo mệnh lệnh của lương tri, đúng thì làm, sai thì bỏ, làm lành, lánh dữ. Điều thiện vốn là căn bản của con người. Không đi ngược với cai căn bản ấy tức là đã thực hiện được chữ Thành.
Xưa vợ chồng Tăng Tử đi chợ, con khóc đòi đi theo. 
Vợ Tăng Tử bảo con: "Con ở nhà rồi mẹ đi chợ về làm thịt lợn cho con ăn". 
Lúc vợ về, thầy Tăng Tử bắt lợn mổ. 
Vợ nói: "Tôi nói đùa con nó đấy thôi!" 
Thầy bảo: "Không nên nói đùa, không nên nói dối, phải giữ được cái đức thành với con và dạy cho nó ngay từ bây giờ cái đức thành của người quân tử." 
Nói rồi thầy đi mổ lợn cho con ăn.

Cứ ngẫm thế mới hiểu được giá trị của chữ Thành. Với người lớn, kẻ nhỏ và bản thân cần phải giữ được lòng thành.

Nhưng muốn giữ được chữ Thành, bên cạnh ta cần phải trau giồi chữ Tín.

Chữ "Tín" là gì?

Tín trước nhất là lòng tin ở mình, ở người. tin mình là biết lượng sức mình, định được chữ thành trong lòng mình để hành động. Có tự tín mới có tự lực, tự cường, tự giải quyết mọi khó khăn trên đường đời.

Tín cũng là giữ đúng lời hứa với mọi người. Một lời đã hứa, dù vật đổi sao dời vẫn không hề thay đổi. Đó là chữ tín.

Tín còn là niềm tin, niềm cậy trong và phó thác vào đấng Tối Cao xét về mặt tín ngưỡng, không bị lay chuyển, lung lạc trước những vinh hoa, bổng lộc hay đàn áp, tù đày vì đức tin có thể chuyển dời được cả núi non.

Như vậy, đức tín và đức thành có nét tương đồng, cùng có nghĩa là giừ điều ngay thẳng, không điêu ngoa, xảo quyết để làm những việc lợi ích cho đời.

Thầy Tử Cống ngày xưa đã nói: "Nhân vô tín bất lập" (người không có tín thì không đứng vững được).

Xưa Duyên Lăng Quí Tử đi xứ nước Tấn có một thanh kiếm quí và sang chơi với vua nước Từ. Vua từ thấy thanh kiếm lấy làm thích lắm, ý muốn xin mà không dám nói. Quí Tử ý muốn cho nhưng ngặt phải lo tròn nhiệm vụ. Khi đi xứ về, vua Từ chết. Quí Tử đưa kiếm cho Tự Quân, Tự Quân không nhận. Ông bèn treo kiếm nơi mộ vua nước Từ. 
Ngẫm thế, ta mới thấy, chỉ mới hứa nơi lòng mình thôi mà Quí tử cũng không muốn thất hứa với lòng. Quả thật là người trọng chữ tín.

Nhưng thành và tín mà thiếu trí chẳng khác nào người có tâm mà không có mắt.

Chữ "Trí" là gì?

Trí trước tiên là sự thông minh, sáng suốt. Tâm cảm thì trí suy, thấu tình, đạt lý. Người trí nhận thức nhạy bén, xét đoán công việc một cách phân minh, tìm hiểu vấn đề một cách sâu rộng. Có như vậy mới giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng, kịp thời, xoay chuyển được tình thế, thu hút mọi người và lãnh đạo muôn dân.

Khổng Tử nói: "Trí giả bất hoặc" (người có trí, chẳng có việc gì mê muội). chính vì thế ta mới nói trí là con mắt của tâm vậy.

Xưa Đào Duy Từ chơi với bọn trẻ. Đánh rơi quả bưởi xuống lỗ sâu, không ai biết cách làm sao để lấy. Nhưng ông đã biết múc nước đổ xuống lỗ, quả bưởi nổi lên và lấy được dễ dàng.

Thần đồng Hạng Thác có lần hỏi Khổng Tử: trên trời có bao nhiêu vì sao thì Ngài bảo hãy nói chuyện dưới đất. 
Hạng Thác hỏi: dưới đất có bao nhiêu ngôi nhà? Khổng Tử lại bảo nên nói chuyện trước mắt. 
Hạng Thác liền hỏi: lông mi có bao nhiêu sợi? Khiến Khổng Tử phải bật cười, khen là "hậu sinh khả úy" (người sinh sau đáng sợ). Trí là vậy ru.

Khổng Tử nói: "Nước mất không biết là bất trí, không liều là bất dũng". Hai chữ trí và dũng vì thế mà di đôi với nhau.

Chữ "Dũng là gì?

Dũng tự nó là sức mạnh - mạnh thể chất và mạnh tinh thần. Dũng là cái chí khí của con người. 
Người có cái dũng thì ăn ngay nói thẳng. Thấy việc phải làm thì ra tay hành động; thấy nguy nan thì ra tay cứu vớt. Đó là người dũng. Bởi thế, Khổng Tử nói: "Kiến nghĩa bất vi, vô dũng giả" (Thấy điều nghĩa mà không làm thì không phải là kẻ dũng).

Chính vì thế mà khi Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga đã thẳng thắn mà rằng:

"Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,
Làm người như thế cũng phi anh hùng."


Người dũng cũng là người anh hùng vậy, mà người anh hùng phải biết kết hợp cái dũng với thành, tín và trí để làm nện sự việc, giúp ích cho đời.

(st)


Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

Tam thập lục kế.

Tam thập lục kế gồm : thắng chiến kế, địch chiến kế, công chiến kế, hỗn chiến kế, tịnh chiến kế và bại chiến kế.

Mỗi phân mục gồm 6 kế.

Thắng chiến kế gồm có:
1-Man thiên quá hải (dối trời qua biển)
2-Vi Ngụy cứu Triệu (vây Ngụy cứu Triệu)
3-Tá đao sát nhân (mượn dao giết người)
4-Dĩ dật đãi lao (lấy nhàn đãi mệt)
5-Sấn hỏa đả kiếp (nhân cháy nhà đánh cướp)
6-Thanh đông kích tây (dương đông kích tây)

1-Man thiên quá hải (dối trời qua biển)
Bị chu tắc ý đãi, thường kiến tác bất nghi.
Âm tại dương chi nội, bất tại chi đối.
Thái dương, thái âm.
( Phòng bị chu đáo thì ý chí lơi lỏng, thường thấy thì không nghi ngờ.
Mưu kế bí mật  và hình thức công khai không mâu thuẫn nhau, nó ẩn tàng trong hành vi.
Đó là nguyên tắc âm dương tương giao trong Dịch lý ).

Kế "Man thiên quá hải" là lợi dụng lúc trời sương mù mà lẩn trốn, vượt qua hay hành động ngay trong lúc sương mù.
Man thiên, trời u ám không phải hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi như một quẻ trong Dịch lý đã nói. Man thiên, không thể ngồi đợi nó tới như sương mù do thời tiết thiên nhiên, mà phải tạo ra nó.
Kế "Man thiên" đem áp dụng thực hiện được cả hai mặt: tiêu cực lẫn tích cực.
Tích cực là đem ánh sáng đến cho một tình thế mờ mịt.
Tiêu cực là lẩn tránh một tai họa, là lợi dụng cơ hội sơ hở của địch để thoát bí.

Ở trận Xích Bích, Khổng Minh đã giải quyết vấn đề thiếu tên bắn cho các cung thủ bằng cách lấy mười chiếc thuyền lớn chất đầy rơm, đợi lúc trời sương mù, âm thầm đến trại Tào Tháo nổi trống la hét làm như tấn công. Tào sợ ngụy kế, không dám xông ra, chỉ bắn tên như mưa vào các thuyền rơm. Bằng một đêm đánh trống reo hò, không chết một người, Khổng Minh đã lấy được của Tào Tháo cả trăm ngàn mũi tên.

2-Vi Ngụy cứu Triệu (vây Ngụy cứu Triệu)
Cộng địch bất như phân địch, địch dương bất như địch âm.
( Đánh tập trung không bằng khiến cho phân tán rồi mới đánh. Đánh trực diện không bằng đánh sau lưng ).

Nội dung cốt yếu của kế này là : công kích chỗ sơ hở, yếu kém và không phòng bị của địch để gián tiếp khống chế, đạt đến mục đích cuối cùng.
Thời Xuân Thu Chiến quốc, năm 354 trước CN, nước Ngụy đánh bao vây thủ đô Hàm Đan của nước Triệu. Triệu cầu cứu Tề. Tề chiêu mộ 8 vạn người, phong Điền Kỵ làm thống soái, Tôn Tẩn làm quân sư đi cứu Triệu. Điền Kỵ muốn đưa quân trực tiếp đến Triệu quyết chiến với Ngụy. Tôn Tẩn chủ trương không nên giao chiến với Ngụy ở nước Triệu mà thừa cơ Ngụy không còn quân phòng thủ trong nước mà tiến đánh thủ đô Đại Lương của Ngụy. Ngụy nhất định sẽ phải đình chỉ bao vây Hàm Đan mà rút về cứu Đại Lương. Điền Kỵ nghe theo lời khuyên của Tôn Tẩn tấn công Đại Lương . Ngụy nghe tin rút quân từ Triệu về cứu Đại Lương. Quân Tề phục kích chờ quân  Ngụy đường xa mệt mỏi quay về sẽ tấn công. Quân Ngụy đại bại. Triệu được giải vây.
 
3-Tá đao sát nhân (mượn dao giết người)
Địch dĩ minh, hữu vị địch, dẫn hữu sát địch, bất tự xuất lực, dĩ tổn suy diễn.
( Địch đã rõ, bạn chưa ổn định, dụ bạn đi đánh địch, tránh tổn phí lực lượng của ta ).

Khi tình hình địch thì đã rõ và đồng thời có một thế lực khác đang phát triển sẽ thành lực lượng lớn, nên mượn thế lực đó mà tiêu diệt địch.
Kế "Tá đao sát nhân" là mượn dao để giết người, mượn tay người khác để giết kẻ thù của mình.
Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: "Sát nhân bất kiến huyết, kiến huyết phi anh hùng". (Giết người không thấy máu, thấy máu không anh hùng).
Trên đời dĩ nhiên chưa có kẻ nào chỉ giết người mà thành anh hùng, nhưng cũng hiếm có tay anh hùng nào không giết người. Điểm khác nhau không ở có hay không, mà ở chỗ thông minh hay ngu xuẩn.
Tào Tháo mượn Lưu Biểu giết Nễ Hành, mượn lòng quân giết Dương Tu rồi lại được làm cái việc mèo già khóc chuột, thật đáng kể là một tay thông minh, gian hùng

4-Dĩ dật đãi lao (lấy nhàn đãi mệt)
Khổn địch chi thế, bất dĩ chiến, tổn cương ích nhu.
( Bức địch vào chỗ khốn cùng mà không dùng phương pháp tấn công trực tiếp. Cương nhu chuyển hóa lẫn nhau. Đây là mưu kế suy diễn từ quẻ Tổn của Kich Dịch )

Nguyên tắc chủ yếu là dùng giản đơn khống chế phức tạp, dùng bất biến đối phó vạn biến, dùng biến hóa nhỏ đối phó biến hóa lớn, dùng tĩnh đối động, dùng hoạt động ít đối phó hoạt động nhiều.
Kế "Dĩ dật đãi lao" là lấy sự thanh thản để đối phó với hấp tấp, nhọc nhằn; dưỡng sức mà đợi kẻ phí sức.
Kế này viết ở trong thiên "Quân Tranh" của bộ "Tôn Tử Binh Pháp": "Lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt" nghĩa là trên chiến thuật phải tìm nắm trước địa vị chủ động để ứng phó với mọi tấn công của địch.
Cũng có ý nói nên chuẩn bị chu đáo, dễ dàng lấy cái thế bình tĩnh xem xét tình hình biến hóa mà quyết định chiến lược, chiến thuật. Đợi địch mỏi mệt, tỏa chiết bớt nhuệ khí rồi mới thừa cơ xuất kích.
Tôn Tử gọi thế là: "Ẩn sâu dưới chín từng đất, hành động trên chín từng trời".

Sử dụng sách lược này đòi hỏi thái độ tuyệt đối trầm tĩnh ứng biến, đo được ý kẻ thù, hoàn cảnh kẻ thù, thực lực kẻ thù. Nếu thời cơ chưa chín thì đứng yên như trái núi. Khi cơ hội vừa tới thì lập tức lấp sông, chuyển bể.
Tư Mã Ý ngăn Gia Cát Lượng ở Kỳ Sơn.
Chu Du phóng hỏa tại Xích Bích.
Tào Tháo đại phá Viên Thiệu nơi Quan Độ.
Tạ Huyền đuổi Bồ Kiên ở Phi Thủy.
Tất cả đều lấy ít đánh nhiều, thế kém vượt thế khỏe. Tất cả đều là kết quả sử dụng tài tình sách lược "Dĩ dật đãi lao".

5-Sấn hỏa đả kiếp (nhân cháy nhà đánh cướp)
Địch chi hại đại, tựu thế thủ lợi, cương quyết nhu dã.
( Địch gặp nguy cơ lớn, ta thừa cơ đánh giành thắng lợi. Kẻ mạnh thắng kẻ yếu vậy ).

Nội dung chủ yếu là : khi địch gặp nguy hiểm khó khăn, phải tranh thủ công kích.
Kế "Sấn hỏa đả kiếp" là lợi dụng lúc loạn để thao túng, lúc tình hình rối ren mà sắp xếp theo ý muốn.
Có hai loại "Sấn hỏa đả kiếp": Một là theo lửa để mà đánh cướp. Hai là chính ta phóng hỏa mà đánh cướp.
Theo lửa tức là thừa lúc người ở trong cơn nguy biến mà ta quấy hỗn loạn thêm.
Phóng hỏa tức là chính ta gây ra sự hỗn loạn mà thực hiện theo ý muốn của ta.
Theo lửa hay phóng hỏa cùng đi chung vào một mục đích là đánh địch và đoạt của địch để tạo cơ hội cho ta.
Theo lửa thì dựa vào thời cơ sẵn có.
Phóng hỏa thì tự ta tạo ra thời cơ.
Không thể phê phán theo lửa hay phóng hỏa, cái nào hay, cái nào dở, cái nào tốt, cái nào xấu, vì cả hai giống như một sự biến ảo giữa không khí và nước.

Trong sử sách, người ta thấy tay phóng hỏa giỏi là Trương Nghi. Một mình Trương Nghi đã phá tan thế hợp tung bằng cách dối Tề, lừa Triệu, dọa Ngụy, thuyết Yên, bịp Sở.
Trương Nghi thật là con người có cái lưỡi bằng lửa thiêu đốt cả sáu nước, dựng thành cơ nghiệp thống nhất cho nhà Tần.
Khổng Minh tuy là một nhà chính trị lỗi lạc tài tình, nhưng cái thế của ông ngay từ đầu chỉ là cái thế phải theo lửa để gây vốn: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh chạy đến cùng đường, Khổng Minh đành tính kế nương nhờ Tôn Quyền rồi ăn theo cuộc chiến tranh Nam - Bắc, ăn theo trận Xích Bích để cướp Kinh Châu.
"Sấn hỏa đả kiếp" đòi hỏi một khả năng hành động mau lẹ như con ó bắt mồi.

6-Giương đông kích tây (giương đông kích tây)
Địch chí loạn tụy, bất ngu, Khôn hạ Đoài thượng chi tượng, bất tự chủ nhi thủ chi.
( Địch rối loạn như đám cỏ, có cơ xảy ra tai họa bất ngờ, Khôn dưới Đoài trên là quẻ Tụy, thừa cơ địch không tự chủ được mà tiêu diệt ).

Kế "Dương đông kích tây" là reo hò giả vờ như thật sự đánh vào phía đông, nhưng chủ yếu lại đánh vào phía tâỵ
Trong tất cả mọi vấn đề của xã hội, từ chiến trường, thương trường, chính trường cho đến tình trường; nếu muốn điều này nhưng lại giả làm điều kia, nói điều này mà làm điều nọ, ấy là "Dương đông kích tây" vậỵ
Kế này mờ ảo vô song. Nó rất khó biết, khó đoán, bị đánh bất ngờ. Kế này nhằm chuyển mục tiêu để lừa dối đối phương, khiến cho địch sơ ý, lừa lúc bất ý tấn công kẻ không chuẩn bị.
Có nhiều cách thức để thực hiện kế này, như:
- Tạo tin đồn. - Làm rối tai rối mắt địch. - Buộc đối phương lo nhiều mặt. - Mê hoặc ý chí của địch. - Nghi binh. - Làm phân tán lực lượng đối phương. - Làm yếu lực lượng đối phương, lực lượng phòng vệ địch.
Nguyên tắc của " Dương đông kích tây" là bí mật và chủ động. Bị động coi như phải chịu sự khống chế của địch.
Điều kỵ khi dùng kế " Dương đông kích tây" là để lộ cơ mật.
Lộ cơ mật là mất hết khả năng phòng bị, chuẩn bị. Dù là trên chiến trường, thương trường hay chính trường cũng đều phải giữ bí mật và nắm được thế chủ động.

( còn nữa )