Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010

Điển hay tích lạ. - Tam bành, lục tặc.


Đạo gia (tức Đạo giáo, theo học thuyết của Lão Tử) cho rằng cái Thần (tinh thần) của con người ở vào ba nơi. Một ở óc, hai ở minh đường (quả tim), ba ở dạ dày.
Theo sách "Chư chân huyền ảo" thì cái Thần ấy có thể làm hại người. Ba nơi chư Thần ấy, Đạo giáo gọi là Tam thi.
Theo sách "Thái thượng tam thi trung kính" thì: thượng thi tên Bành Cứ vốn ở đầu con người; trung thi tên Bành Chất vốn ở bụng người; hạ thi tên Bành Kiêu ở chân người.
Ba thần này gọi là thần Tam Bành hay xúi giục người làm bậy. Đến ngày Canh Thân, ba vị thần này lén tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho người mau chết để khỏi phải theo dõi nữa. Người ta tin rằng những sự giận dữ, nóng nảy là do thần Tam Bành xúi giục gây ra để cho người dễ làm bậy. Vì giận dữ, nóng nảy dễ làm cho người làm những điều sai lầm. Nhiều việc không thành, đổ vỡ vì giận giỗi, nóng nảy.

Cũng như tục ngữ ta có câu: "No mất ngon, giận mất khôn".
Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn Tú Bà nghe Kiều đã lấy Mã Giám Sinh (chồng bình phong của mụ), mụ ghen tức, có câu:
Mụ nghe nàng nói hay tình
Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên.

Nghĩa là mụ nghe Kiều nói rõ sự tình (tình hình, tình trạng về việc nàng đã thất thân với Mã Giám Sinh, coi Giám Sinh là chồng rồi) tức thì mụ mới nổi giận lên đùng đùng.

"Lục tặc"
là sáu thứ hại.
Theo Phật giáo thì sáu thứ hại cho sự tu hành là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Sắc đẹp, tiếng thanh tao, mùi thơm, vị ngọt, ấm áp, êm ái dễ làm lòng người giao động xao xuyến. Chúng như có một ma lực huyền bí để quyế rũ, hấp dẫn lôi cuốn người vào bến mê, đọa lạc. Bởi vậy, người tu hành mắt không xem sắc đẹp, tai không nghe tiếng thanh, mũi không ngửi mùi thơm, miệng không nếm vị ngọt, thân thể xa kẻ khác, lòng không tưởng điều tà vậy.

Con người, một khi để Tam Bành, Lục Tặc dậy lên thì tất nguy khốn cho thân mạng, cho cuộc đời.
Người nào giết được Tam Bành, Lục Tặc tức là một vị chân tu vậy.

(st)


Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2010

THÀNH-TÍN-TRÍ-DŨNG


Chữ "Thành" là gì?

Trong Kinh văn có nói: "Sở vi thành kỳ ý giả, vô tự khi giả" (thành kỳ ý nghĩa là mình chẳng dối mình). Như vậy ta nhận thấy ý nghĩa đầu tiên của chữ Thành là hiểu mình, không tự dối mình. 
Vậy không tự dối mình là thế nào? – Là làm theo mệnh lệnh của lương tri, đúng thì làm, sai thì bỏ, làm lành, lánh dữ. Điều thiện vốn là căn bản của con người. Không đi ngược với cai căn bản ấy tức là đã thực hiện được chữ Thành.
Xưa vợ chồng Tăng Tử đi chợ, con khóc đòi đi theo. 
Vợ Tăng Tử bảo con: "Con ở nhà rồi mẹ đi chợ về làm thịt lợn cho con ăn". 
Lúc vợ về, thầy Tăng Tử bắt lợn mổ. 
Vợ nói: "Tôi nói đùa con nó đấy thôi!" 
Thầy bảo: "Không nên nói đùa, không nên nói dối, phải giữ được cái đức thành với con và dạy cho nó ngay từ bây giờ cái đức thành của người quân tử." 
Nói rồi thầy đi mổ lợn cho con ăn.

Cứ ngẫm thế mới hiểu được giá trị của chữ Thành. Với người lớn, kẻ nhỏ và bản thân cần phải giữ được lòng thành.

Nhưng muốn giữ được chữ Thành, bên cạnh ta cần phải trau giồi chữ Tín.

Chữ "Tín" là gì?

Tín trước nhất là lòng tin ở mình, ở người. tin mình là biết lượng sức mình, định được chữ thành trong lòng mình để hành động. Có tự tín mới có tự lực, tự cường, tự giải quyết mọi khó khăn trên đường đời.

Tín cũng là giữ đúng lời hứa với mọi người. Một lời đã hứa, dù vật đổi sao dời vẫn không hề thay đổi. Đó là chữ tín.

Tín còn là niềm tin, niềm cậy trong và phó thác vào đấng Tối Cao xét về mặt tín ngưỡng, không bị lay chuyển, lung lạc trước những vinh hoa, bổng lộc hay đàn áp, tù đày vì đức tin có thể chuyển dời được cả núi non.

Như vậy, đức tín và đức thành có nét tương đồng, cùng có nghĩa là giừ điều ngay thẳng, không điêu ngoa, xảo quyết để làm những việc lợi ích cho đời.

Thầy Tử Cống ngày xưa đã nói: "Nhân vô tín bất lập" (người không có tín thì không đứng vững được).

Xưa Duyên Lăng Quí Tử đi xứ nước Tấn có một thanh kiếm quí và sang chơi với vua nước Từ. Vua từ thấy thanh kiếm lấy làm thích lắm, ý muốn xin mà không dám nói. Quí Tử ý muốn cho nhưng ngặt phải lo tròn nhiệm vụ. Khi đi xứ về, vua Từ chết. Quí Tử đưa kiếm cho Tự Quân, Tự Quân không nhận. Ông bèn treo kiếm nơi mộ vua nước Từ. 
Ngẫm thế, ta mới thấy, chỉ mới hứa nơi lòng mình thôi mà Quí tử cũng không muốn thất hứa với lòng. Quả thật là người trọng chữ tín.

Nhưng thành và tín mà thiếu trí chẳng khác nào người có tâm mà không có mắt.

Chữ "Trí" là gì?

Trí trước tiên là sự thông minh, sáng suốt. Tâm cảm thì trí suy, thấu tình, đạt lý. Người trí nhận thức nhạy bén, xét đoán công việc một cách phân minh, tìm hiểu vấn đề một cách sâu rộng. Có như vậy mới giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng, kịp thời, xoay chuyển được tình thế, thu hút mọi người và lãnh đạo muôn dân.

Khổng Tử nói: "Trí giả bất hoặc" (người có trí, chẳng có việc gì mê muội). chính vì thế ta mới nói trí là con mắt của tâm vậy.

Xưa Đào Duy Từ chơi với bọn trẻ. Đánh rơi quả bưởi xuống lỗ sâu, không ai biết cách làm sao để lấy. Nhưng ông đã biết múc nước đổ xuống lỗ, quả bưởi nổi lên và lấy được dễ dàng.

Thần đồng Hạng Thác có lần hỏi Khổng Tử: trên trời có bao nhiêu vì sao thì Ngài bảo hãy nói chuyện dưới đất. 
Hạng Thác hỏi: dưới đất có bao nhiêu ngôi nhà? Khổng Tử lại bảo nên nói chuyện trước mắt. 
Hạng Thác liền hỏi: lông mi có bao nhiêu sợi? Khiến Khổng Tử phải bật cười, khen là "hậu sinh khả úy" (người sinh sau đáng sợ). Trí là vậy ru.

Khổng Tử nói: "Nước mất không biết là bất trí, không liều là bất dũng". Hai chữ trí và dũng vì thế mà di đôi với nhau.

Chữ "Dũng là gì?

Dũng tự nó là sức mạnh - mạnh thể chất và mạnh tinh thần. Dũng là cái chí khí của con người. 
Người có cái dũng thì ăn ngay nói thẳng. Thấy việc phải làm thì ra tay hành động; thấy nguy nan thì ra tay cứu vớt. Đó là người dũng. Bởi thế, Khổng Tử nói: "Kiến nghĩa bất vi, vô dũng giả" (Thấy điều nghĩa mà không làm thì không phải là kẻ dũng).

Chính vì thế mà khi Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga đã thẳng thắn mà rằng:

"Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,
Làm người như thế cũng phi anh hùng."


Người dũng cũng là người anh hùng vậy, mà người anh hùng phải biết kết hợp cái dũng với thành, tín và trí để làm nện sự việc, giúp ích cho đời.

(st)


Bông hoa trà 200 năm mới nở.

Được đem từ Trung Quốc sang Anh cách đây 200 năm, cây hoa trà vừa ra hoa báo hiệu mùa xuân sang.




Điển hay tích lạ. - Cái "gia gia"

Cuối đời nhà Thương (1783-1154 trước D.L.) vua Trụ hoang dâm vô đạo, tàn hại lê dân, người người oán giận.
Văn Vương là Cơ Xương, vốn là một chư hầu của nhà Thương, nhân từ đức hạnh, được các chư hầu và dân chúng kính phục. Văn Vương lại có một người tôi tài giỏi là Khương Tử Nha phò tá làm cho chính trị trong nước ngày càng hưng vượng. Văn Vương chết, truyền ngôi cho con là Cơ Phát, lấy hiệu Võ Vương.
Sau Võ Vương nghe lời quần thần, hội chư hầu đem binh phạt Trụ mong cứu dân chúng thoát cảnh lầm than. Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc nghe thấy, ra nắm dây cương ngựa của Võ Vương, nói rằng:
- Cha chết chưa chôn mà đã chăm việc chinh chiến, thế có gọi là hiếu được không? Bầy tôi giết vua để cướp nước, thì có gọi là nhân được không?
Võ Vương bảo:
- Vua Trụ hoang dâm vô đạo, sát hại lê dân làm giận lòng người, trái ý trời. Nếu ta thủ phận, ngồi nhìn sự hà khắc của vua Trụ thì muôn dân còn trông cậy vào đâu! Hơn nữa, giang san có riêng gì của vua Trụ, ngày xưa vua Thành Thang chẳng chinh phạt vua Kiệt nhà Hạ để dựng nên nhà Thương đó sao?
Bá Di, Thúc Tề chẳng nghe, cho Võ Vương là bội chúa. Những cận thần của Võ Vương tức giận, muốn giết cả hai. Tử Nha can:
- Không nên. Hai ông là người nghĩa.
Đoạn, bảo quân lính đẩy hai ông ra.
Sau Võ Vương thắng trận, Trụ Vương thiêu mình, lập thành nhà Chu, các chư hầu đều thần phục. Bá Di, Thúc Tề lấy làm hổ thẹn, coi thóc gạo cũng là của nhà Chu mà không ăn nữa. Hai ông lên ẩn ở núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, và làm bài hát "Thái Vi" (hái rau vi) rằng:
    Lên núi Tây Sơn chừ, ta hái rau vi.
    Kẻ bạo thay bạo chừ, biết phải trái gì.
    Thần Nông, Ngu, Hạ đã qua chừ ta biết đâu mà quy y.
    Đành chịu vậy chừ, vận mạng ta suy.

Nguyên văn:
    Đăng bỉ Tây Sơn hề thái kỳ vi hĩ,
    Dĩ bạo dịch bạo hề bất tri kỳ phi hĩ.
    Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một bề ngã an thích quy hĩ.
    Vu ta tồ hề mạng chi suy hĩ.

Nhưng một hôm có người bảo hai ông:
- Đất bây giờ là đất của nhà Chu, thiên hạ là thiên hạ của nhà Chu, hai ông đã chê, không ăn cơm gạo nhà Chu mà hái rau vi của giang san nhà Chu thì có khác gì.
Hai ông cho là có lý nên từ ấy nhịn ăn mà chết.
Tương truyền, hai ông vì uất ức, oan hồn chưa tan nên biến thành một loại chim, thường gào thét một giọng bi thảm:
- "Bất thực Túc Chu gia... Bất thực Túc Chu gia"
Người ta bảo đó là chim Đa Đa do âm "gia gia" mà ra.
Trong bài "Qua đèo ngang tức cảnh" của bà Huyện Thanh Quan, có câu:
    Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Nguyễn Công Trứ có làm bài thơ "Vịnh Di, Tề":
    Danh chẳng màng, lợi cũng chẳng mê.
    Ấy gang hay sắt hỡi Di, Tề?
    Gặp xe vua Võ tay dừng lại,
    Thấy thóc nhà Chu mặt ngoảnh đi.
    Cô Trúc hồn về sương mịt mịt,
    Thú dương danh tạc đá tri tri.
    Cầu nhân chẳng đặng nhân mà chớ,
    Chẳng trách ai chi, chẳng oán chi.

(st)


Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010

Điển hay tích lạ. - Con "Quốc quốc"

Con "Quốc quốc" vốn là chim Cuốc. Tiếng "quốc quốc" do cách tá âm "cuốc cuốc" mà ra. Trong bài "Qua đèo Ngang" của bà huyện Thanh Quan, có câu:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Chim Cuốc còn có tên là Đỗ Quyên, Tử Quy hay Đỗ Vũ. Giống chim này, đầu mỏ hơi cong, miệng to đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng có một đường đen thẳng ngang. Nó thường lủi trong bụi rậm dưới ao sâu hoặc hồ rộng. Cuối xuân sang hè thì bắt đầu kêu. Giọng thê thảm khiến khách lữ hành động lòng nhớ nhà, nhớ quê hương.
Chim này không tự làm tổ lấy, đẻ trứng vào ổ chim Oanh. Chim Oanh ấp, nuôi cho đến lớn.

Sự tích chim Cuốc có nhiều thuyết.
Có điển cho rằng vua nước Thục là Đỗ Vũ thông dâm với vợ một bề tôi là Biết Linh, Biết Linh dấy loạn. Vua Thục thất bại, mất ngôi, chạy trốn vào rừng. Đoạn này sách "Thành đô ký" lại nói: Vua Thục thông dâm với vợ Biết Linh. Biết Linh biết chuyện, bày kế cho vợ nói khích Đỗ Vũ nhường ngôi cho Biết Linh rồi cùng vợ Biết Linh bỏ nước đi, để sống cho trọn tình chung. Đỗ Vũ nghe theo, giao nước cho Biết Linh nhưng vợ Biết Linh bây giờ bỏ Đỗ Vũ, trở lại sống cùng chồng.
Buồn khổ, nhớ nước, sau thác, Thục đế hóa thành chim Đỗ Quyên, ngày đêm kêu mãi không thôi.
Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du đoạn tả về khúc đàn của Kiều gảy cho Kim Trọng nghe lúc tái hợp, có câu:
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ Quyên.
Lại cũng có điển chép: Thục đế An Dương Vương của nước ta (207 trước D.L.?), vì con gái là Mỵ Châu bị lừa, trao nỏ thần cho chồng là Trọng Thủy nên phải thua trận và nhảy xuống biển tự tử. Vì nhớ nước nên hóa thành chim Cuốc, ngày đêm kêu lên những tiếng não ruột.
Thuyết sau này e không đúng. Vì tiếng "Đỗ Quyên", "Đỗ Vũ" nguồn gốc vốn ở Trung Hoa.
Thật không có tiếng gì kêu bi thảm, não ruột cho bằng tiếng chim Cuốc. Những buổi trưa hè nắng chang chang hay những đêm hè tịch mịch, tiếng chim Cuốc trong những bụi rậm hay trong bụi niễng dưới đầm vọng lên làm lòng người cảm thấy bi ai một cách lạ lùng. Nó gợi lên được sự nhớ nhung một thời oanh liệt xa xôi nào; có khi nó thúc giục và làm bừng dậy cái tinh thần ái quốc nồng nàn đương tiềm tàng trong lòng người dân thời nước mất nhà tan.
Thi ca cổ điển Việt Nam dùng rất nhiều điển về chim Cuốc.
Trần Danh An, một di thần nhà Lê (1428-1788), nghe tiếng Cuốc kêu cũng cảm xúc, nhớ lại một triều đại hưng thịnh, một công nghiệp dựng nước của Thái Tổ, tài đức Thái Tông... Hôm nay, Chiêu Thống hèn nhát, họ Trịnh chuyên quyền, lòng ái quốc thiết tha sống động trong tâm hồn thi sĩ; nhưng thi sĩ cảm thấy mình bất lực trước thời cuộc nên đành gói ghém tâm sự di thần của mình trong mấy vần thơ:

    Giá cô tại giang Nam
    Đỗ Quyên tại giang Bắc
    Giá cô minh gia gia
    Đổ Quyên minh quốc quốc.
    Vi cầm do hữu quốc gia thanh,
    Cô thần đối thử tình vô cực.


    Nghĩa:
    Chim giá cô ở bờ sông Nam,
    Chim Đỗ Quyên ở bờ sông Bắc,
    Giá cô kêu gia gia,
    Đỗ Quyên kêu quốc quốc
    Chim nhỏ còn kêu tiếng nước nhà
    Cô thần đối cảnh tình man mác.


Bà huyện Thanh Quan khi qua đèo Ngang đã mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm trạng thầm kín của mình đối với công nghiệp của triều Lê đã mất:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Nhưng tiếng Cuốc ở đây lại càng lâm ly, não nùng hơn nữa.
Đứng trước thành Cổ Loa, xưa kia nơi đây là cung miếu của vua Thục, nhà thơ Chu Mạnh Trinh bất giác sinh lòng hoài cổ. Cung miếu đó, xưa kia tráng lệ huy hoàng bao nhiêu thì ngày nay điêu tàn quạnh quẽ bấy nhiêu. Trong cảnh vắng vẻ lạnh lùng này, dưới ánh trăng mờ nhạt, tiếng cuốc khắc khoải năm canh vọng lên buồn bã.
... Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt,
Trăng mờ khắc khoải Cuốc kêu thâu
(Bản dịch của Tiền Đàm)
Nguyên văn:

... Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu,
Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.
Tiếng Cuốc của quan Án Chu Mạnh Trinh tuy có não nuột thật nhưng chưa sâu xa thấm thía và bi đát bằng tiếng Cuốc kêu của cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến. Tiếng Cuốc của Cụ Nguyễn là tất cả tiếng nói của lòng một người dân tha thiết yêu nước bị mất nước. Tiếng Cuốc đó còn nói lên một mối đau buồn uất hận của tác giả vì nỗi bất lực trước cảnh đen tối của thời cuộc. Và, đó cũng là tiếng nói của lương tâm thôi thúc tác giả xông pha vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc:
Khắc khoải sâu đưa giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục đế thác bao giờ.
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đừng gọi?
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?
Ban đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.
Mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm sự của một người dân vong quốc vẫn là một thông lệ trong văn chương Việt Nam.
"Thục đế", "Đỗ Quyên", "Quốc quốc" đều do điển tích trên.

(sưu tầm)